Content on this page requires a newer version of Adobe Flash Player.

Get Adobe Flash player

 

Cảm Tưởng

Tổng Kết Lớp Học

Sinh Hoạt HT Houston

Thiền Sinh Ôn Bài

Y Học

Tâp San

Trăm ngả Rừng Thiền…


Tôi chỉ là một kẻ tình cờ đi lạc vào chốn rừng Thiền. Tôi vốn không hề có ý định cố tình phiêu lưu vào lãnh vực mang ít nhiều tính cách “bí hiểm” này. Tất cả cớ sự bắt đầu là do một người bạn mời tham dự một phiên họp định kỳ hàng tháng của Đạo tràng Tánh Không ở tuốt trên khu Penelope, cách 15 dặm về hướng bắc Sacramento, vào khoảng hơn một năm trước.

Trước đây, khi nghe đến Thiền thì tôi rất là “kính nhi viễn chi”. Thiền là của người khác, không phải của tôi. Thiền đối với tôi là một cái gì mang dáng vẻ “huyền bí” và xa cách, chỉ để dành riêng cho một số người có khuynh hướng tu hành hoặc một số người đặc biệt nào đó…

Chứ đâu có biết rằng …

Sau khi tiếp xúc với một số thiền sinh, nhất là người trưởng đạo tràng ở Đạo tràng Tánh Không Sacramento, một lần nghe thuyết giảng về Thiền và sau khi đọc “ngấu nghiến” một số tài liệu về thiền- tôi nói đọc “ngấu nghiến” là vì, tôi đã bị bà xã cằn nhằn vì “tội” thức cả đêm để đọc cuốn Thiền Luận I của Tỳ kheo Thích Thông Triệt- tôi bắt đầu thấy tò mò về Thiền và quan niệm của tôi về Thiền cũng từ đó thay đổi. Tôi bắt đầu tiếp cận với Thiền trong một tư thế khác: như một khám phá mới. Nhưng mới bắt đầu “bén mảng” chút chút vào Thiền, tò mò đọc thêm một số tài liệu về Thiền, là đã bắt đầu thấy lúng túng …

Có quá nhiều môn phái, hệ phái về Thiền mà lý thuyết đôi khi lại có vẻ như tương phản nhau.

Trước tiên, là thiền trong đạo Phật, và thiền ngoài đạo Phật.

Theo Thiền sư Tôn Mật đời Đường, thiền được chia làm 5 loại:

  1. Thiền ngoại đạo
  2. Thiền phàm phu
  3. Thiền Nguyên thủy (Tiểu thừa)
  4. Thiền Đại thừa
  5. Thiền Như lai tối thượng (Thiền Như lai thanh tịnh, Thiền Tổ sư, Thiền Đốn ngộ, Thiền Đạt ma, mà nay gọi là Thiền Tông)

(Theo tài liệu của Thư viện Hoa sen)

Nhưng nếu theo tài liệu Thiền Tánh Không, thì thiền được phân loại ra nhiều môn phái, hệ phái như sau:

“- Thiền Nguyên thủy, gồm Tứ Niệm Xứ (Thực hành theo Kinh Tứ Niệm xứ), và Thiền Minh sát hay Tuệ Minh sát (Vipassana).

- Thiền Phát triển, gồm Thiền theo tông Thiên thai, Thiền Tây tạng (Thiền Mật tông), Thiền Tịnh (Thiền và Tịnh độ kềt hợp), Thiền Từ Niệm Xứ (thực hành theo Luận Câu xá).

- Thiền Tổ Sư, tức Tổ Sư Thiền. Thiền này gồm nhiều loại: Thiền Công Án, Thiền Thoại Đầu,Thiền Tri Vọng v.v…

Tôi không muốn đi sâu vào chi tiết các tông phái trên, vì thật ra tôi không hề có tham vọng tìm hiểu sâu xa về Đạo Phật. Phật giáo vốn bao la.

Mục tiêu trước mắt của tôi rất khiêm tốn, chỉ giới hạn vào việc Tập thực hành Thiền để có thểđi vào “Định” được mà thôi. Và không hề có tham vọng về những vấn đề cao siêu nào khác, như Giác ngộ hay Giải thoát.

Thiền Tánh Không

Trước đây tôi đã có cơ duyên được găp Thầy Thông Triệt. Qua đôi lần nghe thầy thuyết giảng, cái phong thái trong sáng và điềm đạm của Thầy đã gây được sự tin tưởng trong tôi.Và sau khi tham khảo một số tài liệu sách vở của thiền phái Tánh Không, niềm tin cậy về Thiền Tánh Không trong tôi lại càng được xác định thêm.

Việc thực hành Thiền theo mỗi hệ phái dĩ nhiên là có những điểm tương đồng cũng như những điều dị biệt. Nhưng, vượt lên trên tất cả những khác biệt đó, “Truờng phái” Thiền Tánh Không có một điểm đặc biệt khác với tất cả hệ phái Thiền khác từ trước đến nay: Đó là ứng dụng các thành tựu khoa học mới nhất vào thực hành Thiền.

Theo Thiền Tánh Không, “Thiền là một “Khoa học tâm linh thực nghiệm”.  Nó cũng không còn là vấn đề bí hiểm, khó lãnh hội như trong những thế kỷ về trước. Nó là một khoa học như những khoa học khác trên thế gian, nhưng khác với các môn khoa học khác trên thế gian là nó thuộc về tâm linh. Nó khai triển năng lực Biết để phục vụ nhân sinh (Human life) trong những hoàn cảnh và môi trường sống khác nhau chứ không khai triển năng lực Ý thức, Ý căn hay Trí năng. Có đứng trên lập trường này chúng ta mới cụ thể hoá truyền thống nòng cốt của thiền học Đông phương là mang lại hài hòa cho nhân sinh trong bối cảnh sống trong xã hội hiện nay của nền văn minh của thế kỷ 21.”

(“Hồi đáp sinh học trong Thiền” tr.1)

Không khẳng định hoặc áp đặt các phương pháp hay kỹ thuật Thiền đã có từ trước một cách chủ quan mà trái lại chỉ cố gắng tim hiểu, giải thích và chứng minh bằng cách ứng dụng phương pháp khoa học vào việc thực hành Thiền. Điều này giúp lý giải một số hiện tượng phát sinh trên thân tâm của thiền sinh khi thực hành Thiền một cách khoa học hơn. Trong một mức độ khái quát nào đó, và tới một giới hạn chính xác nào đó, những giải thích này sẽ cũng rất hữu ích trong vấn đề tìm hiểu và thực hành về Thiền.

(Muốn đi vào chi tiết của vấn đề này, xin đọc bài “Hồi đáp sinh học trong Thiền” trong bộ sách Tìm hiểu và ứng dụng Thiền Phật Giáo của Thầy Thích Thông Triệt đã xuất bản)
Ở đây chỉ xin nhắc đến một số sự kiện quan trọng liên quan đến vấn đề này.

Bắt đầu từ năm 1997, tại Nam Cali, thiền Tánh Không đã đưa phương pháp dùng diện não đồ (EEG) vào Thiền để đo mức độ “Định” của thiền sinh. Đây là cách dùng máy đo diện não đồ để biết mức độ tâm giao động, hay tâm yên lặng, tâm thanh thản, tâm định biểu lộ như thế nào dưới các dạng sóng não Beta, Alpha,Theta và Delta.

Tháng Sáu năm 2007, đã tiến thêm một bước nữa là chụp hình não bộ bằng máy functional-Magnetic Resonance Imaging (f-MRI) khi không thiền và khi thiền định của Thầy Thông Triệt, của tăng đoàn và 1 số thiền sinh của đạo tràng Đức. Chương trình này do trường Đại học Tuebingen, tại Đức quốc thực hiện. Nhờ kết quả trên, Thiền Tánh Không đã xác định được vị trí của vùng tánh nhận thức biết cũng như vùng tánh xúc chạm tức là vùng ở phía sau bán cầu não trái bịảnh hưởng đến khi thiền giả vào được định. (trong khi khoa học chỉ mới xác định được vùng tánh thấy, vùng tánh nghe ở phía sau bán cầu não trái, vùng Broca ở tiền trán bên trái thuộc vùng ý căn, và vùng nói thầm ở vùng thân thọ thuộc vùng thùy đỉnh.)

Nói một cách khác, những giải thích về tương quan của não bộ và Thiền Định của Thiền Tánh Không trước đây là phù hợp với kết quả chụp hình não bộ nêu trên. Các kiến thức khoa học trên giúp các thiền sinh nhận ra vai trò quan trọng về sự liên quan mật thiết giữa tâm và não bộ, giữa tâm và hệ thần kinh…và do đó ảnh hưởng đến toàn bộ sức khỏe của con người.

Tóm lại, cho đến nay, việc ứng dụng các phương pháp khoa học vào việc thực hành Thiền của Thiền Tánh Không đã tỏ ra hợp lý và rất hữu ích.

Nhưng, liệu như thế có bớt đi cái nét quyến rũ “huyền bí” cố hữu của Thiền hay không? Đó là chưa kể tới những môn phái Thiền khác cho rằng không thể giải thích được ” Chữ nghĩa làm sao ghi cái tâm lặng lẽ trong sáng đó? Dù máy móc điện tử tối tân cũng không ghi được chỗ này.”

Thực hành Thiền

Trong tài liệu của Thiền Tánh Không có viết rằng: Ngộ- Thể nhập- Chứng nghiệm, là một quy trình chặt chẽ của Thiền học.

“Khi đã ngộ được Pháp, tức chân lý, mà không thực hành, thì sẽ không bao giờ thể nhập được điều mà ta đã ngộ. Không thể nhập, ta sẽ không bao giờ chứng nghiệm thực sự về pháp thiền đó trên thân, tâm, nhận thức, và trí tuệ tâm linh của ta. Khi đã không chứng nghiệm được, việc thực hành thiền của ta chẳng những không mang lại lợi ích thiết thực gì cho ta mà còn gây tai hại …”

Sự tình vốn phức tạp là thế. Cho nên …

Quả tình tôi không muốn phiêu lưu đơn độc một mình trong lãnh vực thực hành thiền. Và chần chờ… Nếu được hướng dẫn trực tiếp thực hành thiền bởi những người có kinh nghiệm và có thẩm quyền về lãnh vực thực hành Thiền thì vẫn hơn.

Bởi vì nếu tự dò dẫm một mình thực hành thiền mà chỉ căn cứ vào tài liệu, kinh sách cùng với sự chỉ dẫn kinh nghiệm của vài người quen, có thể sẽ chẳng đi đến đâu, trái lại đôi khi còn có thể “lợi bất cập hại”.hoặc “tẩu hỏa nhập ma” không chừng… Và một khi đã thực hành sai thì việc điều chỉnh còn “phiền” hơn là lúc ban đầu chưa thực hành nữa. Cho nên tôi đã kiên nhẫn mà nôn nao chờ đợi hơn một năm để được ghi danh tham dự khóa thiền căn bản Tánh Không 55, tổ chức vào tháng 3 năm 2009, tại Sacramento.

Khóa Thiền Căn bản Tánh Không 55 Khóa học đã gặp trục trặc lúc ban đầu, nhưng cuối cùng nhờ nhã ý của Sư cô Triệt Như  và Thầy Thiền chủ Thiền Tánh không, nên cũng đã khai giảng đúng như dự định ban đầu.

Và tôi đã tham dự khóa học này, với một mục tiêu rõ ràng và giới hạn: “tập thực hành kỹ thuật thư giãn để có thể đi vào được “Định” tức là …”đạt được trạng thái an bình tâm linh” trong một thời thiền nào đó. (Nghe ra không ổn chút nào. Có cái gì đó không giải thích rõ ràng được.). Chỉ đơn giản là muốn giới hạn sự học hỏi trong vấn đề thể nghiệm kỹ thuật thư giãn của Thiền để có thể đạt đến Định mà không dám động chạm đến khía cạnh tôn giáo của Thiền. Cũng không hề có tham vọng về những vấn đề cao siêu như giác ngộ hay giải thoát , và cũng không mưu tìm điều chỉnh những bệnh tâm thân nào khác…Và với một tâm ý như thế, tôi đã đến lớp thiền căn bản với tất cả khiêm tốn, một tấm lòng rộng mở, không thành kiến, không định kiến hay thiên kiến, và sẵn sàng lắng nghe. Ngay trong ngày đầu, trong bài khai thông, Sư cô Triệt Như đã giới hạn mục tiêu của lớp học, trong mức độ ở lớp Thiền căn bản, chỉ  là nhận ra tánh giác của mình, mà nền tảng là niệm “Biết” . Và khi thực hành niệm Biết là thư giãn tâm để tâm được tĩnh lặng, và an lạc. Và hệ quả là có thể điều chỉnh một vài chứng bệnh tâm thể.

Mục tiêu nghe ra khá đơn giản. Nhưng thực ra phải tốn nhiều dụng công tự lực thực hành cộng với nhiều thời gian mới mong thành công được.

Nhưng trước hết là phải qua 7 ngày “gian khổ” nhưng cũng đầy hứng thú, với nội dung như sau:

I. Nội dung lớp học:  Gồm 2 phần: lý thuyết và thực hành.
  1. Phần lý thuyết:
    - Kiến thức về Phật học (Tiến trình tu và thành Đạo của Đức Phật)
    - Kiến thức về Thiền học (Quán-Chỉ-Định-Huệ)
    - Kiến thức về khoa học não bộ. (Để có thể giải thích sự tương tác giữa sự thực hành
    - Thiền và não bộ, hệ thần kinh, rồi ảnh hưởng đến tâm thân ra sao…)
    - Kiến thức về Kỹ thuật thực hành. Phải nắm vững kỹ thuật thực hành để có thể thực   hành thiền đúng. Và khi nắm vững kỹ thuật, ta sẽ rút ngắn được thời gian dụng công, vì   ta sẽ thực hành thẳng vào cơ chế tánh giác, chứ không đi lòng vòng.
  2. Phần kỹ thuật:
    - Kỹ thuật “Thở”
    - Kỹ thuật“Không nói”
    - “Nghe tiếng chuông”
    - Thư giãn luỡi”v.v.

Đây là những kỹ thuật thực hành hay là chiêu thức để giúp ta thư giãn tâm, để tâm tĩnh lặng, và nhận ra được tánh giác.

Cốt lõi của thực hành là thư giãn bằng niệm Biết mà thôi,  sẽ tác động vào não bộ khu vực tánh giác (Biết không lời), và tâm sẽ tĩnh lặng. Khi tâm tĩnh lặng, sẽ tác động dây chuyền đến các tuyến nội tiết để tiết ra các chất sinh- hoá học tốt để điều chỉnh tâm, điều chỉnh thân. Sau đó, nếu tánh giác bị kích thích, tiếp tục bị kích thích hoài sẽ phát huy trí tuệ tâm linh…

Trong thực tế lớp học, lý thuyết và thực hành đan xen nhau. Thực hành là phần áp dụng của lý thuyết vừa được trình bày.

II. Về phương thức giảng dạy:
  1. Tìm cách giải thích tận căn nguyên của sự kiện . Đơn cử một trường hợp: chiêu thức quán ánh sáng. Để trị bệnh mất ngủ kinh niên hay nhức đầu một bên (Thiên đầu thống) thì ngồi nhìn ánh sáng nắng từ 10 phút đến 20 phút trong khoảng 6 buổi tập, ta sẽ có kinh nghiệm điều chỉnh các chứng bệnh trên. Thiền Tánh Không dừng lại ở chỗ xác định đó là căn cứ vào những phát minh mới nhất của khoa học về não bộ, để giải thích tiếp là làm sao và do đâu mà hết bệnh :

    “Khi ta chỉ nhìn và thấy biết ánh sáng nắng. Đây là cách nhìn bằng tánh thấy bằng cách này để kích thích tuyến Tùng (nằm phía sau Đồi Thị) tiết ra Serotonin và Melatonin, đồng thời cũng quân bình được chất Dopamine tại Thùy chẩm, giúp điều chỉnh bệnh ảo giác về thấy và nghe. Serotonin giúp hăng say làm việc, điều chỉnh bệnh trầm cảm, và có khả năng điều chỉnh bệnh nhức đầu một bên (migraine). Melatonin có khả năng điều hòa ngủ thức, trị bệnh mất ngủ kinh niên, tăng cường hệ miễn nhiễm, ngăn ngừa bướu ngực, bướu não…”

    Tôi liên tưởng đến lời khuyên của một vị thầy dạy Tai Chi ở Việt Nam khi ông khuyên các học trò của ông là mắt nên nhìn thật xa vào khoảng không trước mắt mà không chú ý đến một đối tượng nào hết, khi tập một số tư thế Tai chi, thì rất là tốt. Nhưng ông không nói là tốt cho cái gì, tại sao và do đâu mà tốt. Trong suốt nhiều năm, tôi cứ thắc mắc về lời khuyên này. Bây giờ, nghe giải thích của Thiền Tánh Không, tôi mới thấy nhẹ nhõm trong lòng.
  2. Chỉ là giới thiệu và truyền đạt kinh nghiệm thực hành Thiền và không chỉ giới hạn trong Phật giáo.

    Như thầy Thông Triệt có lần đã nói “Giới thiệu phương thuốc Thiền, tôi chỉ giới thiệu, còn muốn hay không muốn là tùy quí vị.”

    Và Sư cô Triệt Như có nói lớp Thiền Căn bản không phải chỉ hạn cuộc trong Phật giáo, mà trái lại theo bất cứ tôn giáo nào khác cũng có thể học thực hành Thiền được, đặc biệt là các “chiêu thức” thực hành ở lớp Thiền Căn bản Tánh không.

    Và nhấn mạnh là Khoá học 7 ngày của lớp Thiền Căn bản chỉ là truyền đạt chút kinh nghiệm về thực hành Thiền mà thôi. Thực hành Thiền chính là tinh tấn tự thân thực hành chứ không phải là cầu nguyện. Cho nên muốn thực hành Thiền có kết quả thì phải tiếp tục …“miên mật” thực hành.

III. Giảng viên:

Có lẽ không cần lặp lại những lời ngợi khen của quá nhiều người về phong cách thuyết giảng của sư cô Triệt Như. Chẳng hạn như kinh nghiệm giảng dạy, lòng tận tụy, bài giảng khoa học, có hệ thống, và hợp lý với những sơ đồ dễ hiểu dễ nhớ v.v.. Nhưng thật ra, trên tất cả những cái đó, sự thành công của lớp Thiền Căn bản của Sư cô Triệt Như là sự tràn ngập sức sống trong các bài thuyết giảng của cô. Giảng viên thật sự “sống” với bài giảng của mình, am hiểu sâu sắc và thật sự tin tưởng vào những điều mình thuyết giảng, nên lớp học bị cuốn hút và cũng tràn đầy sức sống. Đó là nét đặc biệt độc đáo của Sư cô Triệt Như.

Ngoài ra, còn phải nói đến sự thân mật, niềm tin cậy và lòng tương kính giữa người truyền đạt kiến thức và người tiếp nhận kiến thức bàng bạc trong suốt khoá học.

Phần kết

Không hiểu có lạc quan quá không khi nói rằng, chỉ có qua 7 ngày học tập ngắn ngủi , mà lớp học đã có chuyển hóa…Tất cả các khuôn măt đều như có vẻ sáng lên trong một niềm vui an định, nhẹ nhàng và thanh thoát trong buổi bế giảng. Giọng ngâm thơ hào sảng của một thiền khách của Đạo tràng. Tiếng đàn tranh tài tử mà lại đặc biêt điêu luyện đến bất ngờ của một thiền sinh. Một nụ cười dung dị, hồn nhiên mà thấm đậm bao dung. Và những cái khác nữa...

Tất cả hòa quyện lại trong một bầu không khí thân ái, nhẹ nhàng, đầy cảm thông và độ lượng…

Quả thật lòng rất hân hoan trong một niềm vui thanh thản mà trước đây ít khi có được.
Không biết những thiền sinh khác có cảm nghĩ như thế nào sau khi tham dự khóa Thiền Căn bản này, còn đối với riêng tôi, thì những gì đạt được đã vượt quá những gì đã kỳ vọng lúc ban đầu. Và cũng gợi lên trong tôi nhiều suy nghĩ khác.

Với số kiến thức và kỹ thuật căn bản đựợc trang bị, cùng với những buổi thực hành đã thực tập, tuy không nhiều lắm nhưng mà vững chắc, chắc cũng tạm đủ để cho các thiền sinh làm nền tảng cho điểm khởi hành của cuộc Thiền hành dài trước mặt mà không sợ bị lạc lối.

Còn đối với những ai muốn tìm hiểu về Thiền hay muốn thực hành Thiền… Thì có lẽ đây là dịp tốt để có thể trực tiếp thể nghiệm về Thiền, qua lớp Thiền căn bản Tánh không. Đây cũng là một “cơ duyên” đặc biệt…

Sau hết, để kết thúc, không biết có bị chê là khách sáo quá hay không, nếu tôi muốn lặp lại, là “Xin cảm ơn Thầy Thông Triệt và Sư cô Triệt Như”, một lần nữa.

Thái Thủy

 

1.Giải thích theo từ nguyên (Etymology).

Về câu niệm: “Nam mô Bổn sư Thích ca Mâu ni Phật”, mỗi khi bắt đầu hay sau khi kết thúc lớp học, được Sư cô giải thích như sau:

Namo: Kính chào

Bổn sư: Bậc thầy của chúng ta

Thích Ca: tên bộ tộc Sakya

Muni: bậc Thánh yên lặng, nghĩa là làm chủ ý ngôn ( manojalpa: tiếng nói lầm bầm trong tâm) và tâm ngôn ( citta-vaci: tầm và tứ)

Phật: Buddha: bậc Giác ngộ

 ” Như vậy , đặc biệt đối với người không phải là Phật tử, sẽ có thể thoải mái hoà mình vào với lớp học vì đã có thể cởi bỏ cái mặc cảm thần phục hay huyền-nhiệm tôn giáo, để trở thành chỉ là thái độ bày tỏ lòng kính trọng hay ngưỡng mộ đối với một một bậc Thánh, một bậc Thầy mà thôi.

2. Kiết sử, tùy miên:

Cũng có chút ngạc nhiên khi đã lâu không ngờ được nghe lại một bài thơ Đường tuyệt tác. Đó là bài “Đề tích sở kiến xứ” của Thôi Hộ, một nhà thơ nổi tiếng ở đời Đường, với một mối lương duyên hi hữu và thơ mộng , để giải thích và minh họa cho ý niệm Tùy miên và Kiết sử, vốn khó hiểu và siêu hình, trong một lớp Thiền:

Đề tích sở kiến xứ

Khứ niên kim nhật thử môn trung,
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng.
Nhân diện bất tri hà xứ khứ,
Đào hoa y cựu tiếu đông phong.*
(Thôi Hộ)

* Có bản chép là: "Đề Đô thành Nam trang”
(“Thơ đề ở Ấp phía nam Đô thành”)

Đô thành đây là thành Lạc Dương

Đề nơi trước đã thấy

Năm ngoái, ngày này, dưới cánh song,
Hoa đào ánh má, mặt ai hồng.
Mặt ai nay biết tìm đâu thấy,
Chỉ thấy hoa cười trước gió đông.
(Đỗ Bằng Đoàn & Bùi Khánh Đản)

Phải chăng đây là một “nét chấm phá” để làm giảm đi phần nào mức độ vốn khô khan trong lối giảng về Thiền xưa nay?

3. Thực ra tôi không có ý định mạo muội viết những giòng cảm nghĩ tản mạn mang tính cách cá nhân này, bởi vì cũng biết là còn có nhiều điều chưa ổn, nhưng chẳng qua là vì phải viết “cảm nghĩ về lớp thiền” như theo lời yêu cầu của anh Trưởng Đạo tràng, gọi là chút tình tri ngộ, trong chốn Thiền môn mà thôi. 

Cho nên, nếu có gì sai sót hay vô tình làm phiền lòng ai thì xin bỏ qua cho. Xin đa tạ.

4. Một chút kinh nghiệm về khoá Thiền Căn bản muốn trao lại cho người đi sau.

(Cắt bỏ đoạn này sợ bị cho là vô duyên, là “dỏm”, dù là thật lòng muốn cho người đi sau tránh được khuyết điểm của mình đã vấp phải.)

Trong lớp học, nhất là trong ngày đầu, bạn sẽ bị tràn ngập bài vở và mệt mỏi, vì chưa quen, lại nũa chuyện học hành lâu nay đâu có còn nhớ đến, nên sau khi tan lớp học, bạn như thoát nạn, và không ngó ngàng gì đến bài vở nữa. Và tự hẹn sẽ coi lại sau.Rồi ngày mai lại đến lớp, học tiếp trong khi chưa “tiêu hóa” bài vở ngày hôm qua. Và như thế cứ tiếp tục… Sai lầm! Tối về bạn phải ôn lại bài vở trong ngày, đừng có hẹn là sẽ coi lại sau. Nhất là ngày đầu tiên, bài Khai thông rất quan trọng, sẽ giúp bạn hiểu rõ và nắm vững tiến độ các bài kế tiếp và hiểu bài một cách dễ dàng hơn. Đại khái là như vậy. Chúc bạn may mắn và thành công.

5. (Còn một đoạn nữa. “Bùi ngùi với không bùi ngùi”. Nhưng thôi, đã quá dài rồi.)