Sổ Tay Thiền Tánh Không
Tháng 2 - 2011
An Như TRẦN KIM VY

Buổi sáng hôm nay khí trời Houston mát mẻ, Không Minh và tôi đến Trung Tâm Thiền Tánh Không để dự khoá Tu Thiền 2 ngày do thầy Không Chiếu hướng dẫn. Trên xe, điện thoại cầm tay của Không Minh reo liên tục. Hết chuyện này đến chuyện nọ, chuyện nào cũng cần có bàn tay của anh nhúng vào, nhất là chuyện làm ăn địa ốc... Rốt cuộc thì chỉ còn một mình tôi bước vào lớp học, và anh hẹn lại lần sau.
Tôi thật tiếc cho ảnh và cũng thầm cám ơn ảnh đã hy sinh cho tôi, thay vì vào lớp ôn bài cách thực tập để chuyển hoá cái tâm lăng xăng trở thành cái tâm thanh thản... thì ảnh lại thay tôi xông ra cuộc sống ngoài đời chuốc lấy những lo lắng phiền não thay tôi để “kiếm cơm” cho gia đình bằng một thái độ tự nguyện và vui vẻ. Là người có tinh thần trách nhiệm nên trước hành động trợ duyên quyết liệt của anh, tôi không bao giờ giải đãi lo ra trong giờ học. Chính vì vậy mà hôm nay Sổ Tay Thiền Tánh Không lại có dịp tái ngộ cùng bạn đọc.
Ngày thứ Bảy, ban tổ chức cho biết là có 58 vị ghi tên học, trong đó có 5 vị đến từ Dallas. Hôm sau ngày Chủ Nhật số người đông hơn lên tới 79 vị.
Mặc dù là lớp học ngắn hạn chỉ có 2 ngày nhưng cũng có bầu trưởng lớp. Và trưởng lớp là anh Trần Văn Khánh một người vui vẻ và hoạt bát.
Thầy Không Chiếu là vị thầy có dáng gầy ốm nhưng rất nhanh nhẹn. Năm nay thầy đã 84 tuổi, là đệ tử xuất gia của Thầy Thiền Chủ Thích Thông Triệt. Hiện thầy là Hội Trưởng Hội Thiền Tánh Không Texas thay thế cho thầy Không Như về làm Hội Trưởng Hội Thiền Tánh Không Trung Ương bên CA.
CHỦ TRƯƠNG CỦA THIỀN TÁNH KHÔNG
Hằng năm tại các đạo tràng Tánh Không trên thế giới tuỳ nhu cầu tâm linh của mọi người, các đạo tràng tổ chức những khoá tu học từ thấp lên cao như các khoá Căn Bản học 7 ngày, các khoá Bát Nhã 1, 2, 3 và cung thỉnh Hoà Thượng Thiền Chủ cùng tăng đoàn đến hướng dẫn các thiền sinh. Thời gian khoảng hai năm trở lại đây, Thầy Thiền Chủ Thích Thông Triệt nhận thấy tình hình trong cộng đồng xã hội khắp nơi trên thế giới ngày càng đi vào con đường bế tắt, cuộc sống của con người ngày một phiền não nhiều hơn, cảnh vợ chồng ly dị gia tăng, con cái hư hỏng nhiều hơn và tội ác ngoài xã hội cũng nhiều hơn trước... Thầy Thiền Chủ nghĩ muốn giúp tinh thần của mọi người được an ổn chỉ có cách là “mang thiền vào đời sống con người” vì thiền có thể giúp người ta có cái nhìn mới về hiện tượng thế gian để từ đó biết cách xử sự sao cho thích hợp với hoàn cảnh hiện tại, vì vậy Thầy cho phép các đạo tràng địa phương được mở những khoá tu hai ngày với chủ đề nêu trên.
Theo kinh nghiệm của những người đã học thiền đúng phương pháp thì thiền có thể ngừa hoặc làm giảm thiểu những căn bệnh như cao máu mở, huyết áp cao, tiểu đường, mất ngủ v.v... cộng thêm môn khí công giúp giảm bớt những chứng bệnh thấp khớp, đau bao tử, lói tim, tăng cường hệ thống miễn nhiểm v.v...
Đưa thiền vào đời sống con người, Thầy Thiền Chủ chỉ mong cụ thể hoá những gì ích lợi cho đại chúng ở hai mặt: Thân và Tâm được hài hoà. Như vậy Hài Hoà là mục tiêu chính hay nói cách khác là chủ trương của Thiền Tánh Không.
Nếu thân tâm mình được hài hoà tự nó sẽ giúp cho cuộc sống của mình được khoẻ mạnh an vui, và mình sẽ hài hoà với người thân trong gia đình. Khi tất cả những người thân trong gia đình hài hoà với nhau thì cuộc sống gia đình được vui vẻ hạnh phúc. Các thành viên trong gia đình hài hoà này sẽ tạo sự hài hoà với đồng nghiệp của họ nơi sở làm, rồi rộng lớn hơn cộng đồng sẽ được hài hoà do đó xã hội sẽ bớt tội ác.
Vậy hài hoà là gì? Hài hoà theo nghĩa Hàn lâm là không chống trái lẫn nhau. Nghĩa bình dân là cân bằng nội tiết tố (hormones), cân bằng nhận thức, cân bằng ngũ uẩn (thân) và cân bằng hệ thống thần kinh ở Dưới Đồi (Hypertharamus).
Thế nào là cân bằng hormones? Trong cơ thể con người có hai chất căn bản giúp cân bằng hormones đó là: Acetylcholine và Dopamine. Muốn hai chất này tiết ra, ta phải thực hành thiền đúng để tác động vào Đối Giao Cảm thần kinh nằm trong hệ tự quản. Nếu thực hành sai bằng tâm ba thời ý thức, ý căn, trí năng sẽ tác động vào Giao Cảm thần kinh tiết ra hai chất Norepinephrine và Epinephrine sẽ gây ra bệnh tâm thể tức thân tâm không hài hoà.

Khoá học cấp tốc 2 ngày do Hội Thiền Tánh Không Houston tổ chức chỉ ước mong là giúp cho người học tự điều chỉnh thân tâm của mình để thân tâm được hài hoà, thân tâm hài hoà chúng ta sẽ có một cuộc sống khoẻ mạnh an vui . Bao giờ thân được khoẻ mạnh, tâm được an ổn thì chúng ta mới có thể giải quyết những rắc rối hằng ngày một cách sáng suốt để có kết quả tốt.
Hai ngày học thiền quá ngắn ngủi này không bàn đến những vấn đề chứng ngộ cao siêu, thầy Không Chiếu chỉ vắn tắt hướng dẫn cách thực hành những chiêu thức, những kỹ thuật căn bản. Thiền là phải tự mình thực tập, chứ không phải chỉ nghe giảng mà chứng được. Học viên phải về nhà tự mình công phu thực tập mới đạt được sự không nói thầm trng não. Khi bộ nao có quán tính mới, tâm và thân được hài hoà, có nhận thức mới về hiện tượng thế gian, tự nó nhận ra và chấp nhận quy luật: vô thường, khổ, vô ngã... thì lúc đó học viên có tâm bình thản để đối đầu với guồng máy xã hội kinh tế quay cuồng đang lôi kéo mình đi theo. Lúc đó mình sẽ tuỳ thuận guồng máy mà sống, để không bị nghiền nát trong guồng máy đó!
Tóm lại chủ đề “thiền đi vào đời sống” chỉ mong giúp cho đại chúng có cái nhìn mới về hiện tượng thế gian để từ đó biết cách xử sự sao cho thích hợp với hoàn cảnh đang phải đối đầu, khác với “thiền tu theo chân của Tổ, của Phật” cầu thoát khổ, giác ngộ, giải thoát của các vị tu sĩ.
********
Như thường lệ trước khi bắt đầu lớp học thầy trò đều chắp tay lên ngực niệm “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật” ba lần. Niệm xong thầy Không Chiếu giảng sơ qua về câu niệm này. Thầy nói:
- Nam Mô có nghĩa là kính chào, Bổn Sư là thầy tôi, Thích Ca là họ của Đức Phật. Còn Mâu Ni nghĩa là bậc thánh yên lặng. Yên lặng đây không phải là không nói ngoài miệng mà không nói thầm trong đầu nghĩa là trong tâm hoàn toàn yên lặng, không buồn vui giận ghét và sạch hết tập khí, lậu hoặc, kiết sử, tuỳ miên. Phật là bậc Đại Giác Ngộ, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.
Giảng về Thiền, thầy Không Chiếu kể rằng:
- Trước khi Đức Phật ra đời, ở Ấn Độ có nhiều tôn giáo. Lớn và đông tín đồ nhất phải kể là Bà-La-Môn. Những tôn giáo ở Ấn Độ đa số theo thần quyền như thần Gió, thần Sông, thần Lửa v.v.. và tôn thờ Đại Phạm Thiên.
Đạo Phật hiện có hai nhánh lớn là Nam Tông bây giờ gọi là Phật Giáo Nguyên Thuỷ, thật ra phải gọi là Phật giáo Theravada mới đúng vì Phật Giáo Nguyên Thuỷ phải tính từ thời Đức Phật nhập diệt sau 100 năm trở về trước, và Bắc Tông bây giờ gọi là Phật Giáo Phát Triển. Trung Hoa có Thiền Tông. Nhật Bản cũng có. Thiền thì có nhiều Tông Phái lắm. Nào là thiền Thoại Đầu, thiền Lâm Tế, thiền Nhật Bản v.v...
Ở đây chúng ta học thiền của Đức Phật, có 4 tầng thiền:
1. Dùng Tầm tắt Tứ (nói thầm để tắt suy nghĩ)ù
2. Thầm nhận biết (không nói thầm)
3. Chánh niệm tỉnh giác (xả)
4. Ba hành không động.
Mục đích của thiền giúp tâm được yên lặng. Sự yên lặng này giúp thân khoẻ, tâm an, trí sáng. Nói về điều này thầy Không Chiếu chia sẻ:
- Trước kia lớp thiền Tánh Không chỉ tổ chức cho những ai có nhu cầu tâm linh theo học và phải học liên tục 7 hoặc 10 ngày, còn phải đóng học phí nữa... Sở dĩ đóng học phí là để học viên tiếc tiền mà không bỏ ngang chương trình học. Nhưng sau này thầy Thiền Chủ muốn giúp mọi người tu tập để đỡ bệnh tật nên ngoài những lớp theo thứ tự thấp lên cao, Hội Thiền Tánh Không mở thêm các lớp ngắn hạn 2 ngày với chủ đề “Thiền đi vào đời sống” miễn phí để bất cứ ai cũng có thể theo học, không cứ già hay chán đời mới vào học lớp này! Có người thân khoẻ mạnh nhưng tâm không vui, hoặc tâm không có vấn đề mà thân lại không khoẻ đều có thể học để tự độ mình, vì thiền giúp thân khoẻ tâm an trí sáng.
Trả lời câu hỏi thiền có giúp công ăn việc làm của mình hay không? Thầy Không Chiếu trả lời:
- Nếu hiểu và thực hành được kết quả chút chút sẽ được lợi lạc, dĩ nhiên là giúp cho công ăn việc làm của mình nhiều lắm!
Trả lời câu hỏi lúc nào thiền, thiền ở đâu, thầy Không Chiếu vui vẻ cho biết:
-Thiền Định mới phải ngồi, còn những thứ thiền kia thì ở đâu tập cũng được. Nghĩa là quý vị có thể thiền trong lúc đi đứng nằm ngồi gọi là trong bốn oai nghi. Có bốn loại thiền, đó là thiền Chỉ, thiền Định, thiền Quán và thiền Huệ. Trong hai ngày này tôi sẽ tóm tắt để quý vị có thể nắm vững và “làm nháp” ngay tại lớp, về nhà quý vị thực tập mỗi ngày và chọn pháp nào thích hợp thì tập, chứ quý vị nghe tôi nói không thì chẳng lợi ích gì! Từ bây giờ đến cuối tháng Ba quý vị có những thắc mắc cứ đến nơi đây vào các buổi tối thứ Hai, thứ Tư, thứ Sáu từ 7 giờ đến 9 giờ tối để cùng tập Khí Công và ngồi thiền với các bạn để tôi hướng dẫn thêm. Riêng ngày Chủ Nhật cũng có sinh hoạt từ 9 giờ sáng đến 11 giờ trưa. Người ta nói “ăn cơm có canh, tu hành có bạn” nếu quý vị thấy thiền thực sự giúp được cho quý vị thì cùng đến tu học chung với các bạn.
Giới thiệu về dòng Thiền Tánh Không, thầy Không Chiếu kể rằng:
- Thiền Tánh Không xuất phát từ Hoà Thượng Thích Thanh Từ là thầy bổn sư của thầy chúng tôi là Thầy Thiền Chủ Thích Thông Triệt. Tôi vắn tắt không kể dông dài là sau năm 1975 thầy tôi “bị nhốt riêng 2 tay 2 chân bị xiềng” 6, 7 năm. Bảy năm đầu thầy dụng công tu chết bỏ. Một hôm được ra ngoài đi tắm gặp một ông bạn cũng bị tù hỏi: “Ông trẻ quá được 80 chưa?” Lúc đó thầy chỉ mới hơn 40 tuổi. Nghe hỏi như vậy thầy biết trong thời gian qua thầy đã dụng công sai. Thầy nhận ra vọng tưởng là sự nói thầm. Không nói thầm là dứt vọng tưởng. Thầy thay đổi pháp tu không cố gắng không mong cầu, không chờ đợi, chỉ tập cách cắt đứt nói thầm. Mấy tháng sau đi tắm gặp cán bộ. Ông ta nói với những người tu khác là: “Các ông ăn uống như nhau, sao ông này hồng hào còn mấy ông xanh xao quá vậy?” Nghe người ta nói như thế, thầy thiền chủ biết ngay “thiền đúng giúp cơ thể khoẻ mạnh, thiền sai thì có hại cho cơ thể, như vậy trong não con người phải có chất gì do việc hành thiền tác động ” rồi thầy ngộ ra rằng: “Con người khổ vì bị nói thầm trong đầu”. Khi tâm yên lặng thư giãn thì hormones là Acetylcholine tiết ra hoá giải chất Norepinephrine (do giận hờn nóng nảy căng thẳng) và chất Epinephrine (do buồn rầu, lo lắng). Hai chất này tạo ra chất béo làm lên huyết áp, máu đông cục, nghẹt tim, gây nên heart attack, bể mạch máu não, tiểu đường... Chất Acetycholine ngoài việc giúp cân bằng hai chất trên còn có khả năng giúp hồi phục ký ức, an lạc, nói năng linh hoạt v.v...
Năm 1995 nhân dịp Hoà Thượng Thích Thanh Từ sang Hoa Kỳ. Thầy Thiền Chủ xin phép được mở lớp dạy thiền có đối chiếu khoa học cho tới bây giờ!
Giới thiệu Thiền Tánh Không, thầy Không Chiếu nói tiếp:
- Thiền Tánh Không có 4 đặc điểm:
1) Nhìn lại tâm mình: để tự mình cứu mình trước. Không thấy lỗi người làm cho tâm được thanh thản không lo lắng, hết buồn phiền và không còn bứt rứt thì chúng ta đã bớt 50% khổ.
2) Thiền phải thực hành: mới chuyển được tâm, như vậy giảm bớt thêm 25% phiền não.
3) Tu tập theo Thiền Phật chỉ dạy.
4) Đối chiếu khoa học, thực tập biết liền đúng sai nên không sợ “tẩu hoả nhập ma”
Giải thích tại sao không tẩu hoả nhập ma, thầy Không Chiếu nói rằng:
- Hồi xưa đi tu theo kinh theo thầy. Bây giờ cũng theo kinh theo thầy nhưng mượn khoa học để kiểm tra. Nếu thiền 5, 10 phút thấy khoẻ là đúng. Nếu thấy mệt, khó chịu là sai. Những ai bị bệnh cao huyết áp có thể lấy máy đo, nếu mạch tăng cao sau thời thiền là biết mình thực hành sai. Tại sao? Vì thiền là phải thư giãn, kết quả phải nhẹ nhàng khinh an hoan hỉ chứ không thể ngược lại.
Có thêm bốn điều khác mà thầy Không Chiếu chuyển đạt đến học viên là:
- Thứ nhứt khi ngồi thiền không tập trung. Đề cập đến hai chữ tập trung, thầy Không Chiếu kể lại, Đức Phật giảng về Định ngài nói: Khi chúng ta ở trong Định, ta đạt được Tâm Thuần Nhất, có nghĩa là tâm không có gì trong đó, nó trống trơn như tấm gương không có hình. Khi Tổ kết tập kinh điển từ Tâm Thuần Nhất viết lại thành Nhất Tâm. Hai chữ này khi dịch ra tiếng Hán và tiếng Anh thì hoàn toàn khác nghĩa. Chẳng hạn Nhất Tâm là Mindfulness (tâm có 1 điểm) còn Thuần Nhất là Awareness (cái gì cũng biết mà không chú ý). Nhất Tâm là có đối tượng cho nên Tâm này là tâm ý thức, mà hễ có ý thức thì thế nào tưởng cũng xuất hiện cho nên người xưa hay nói: Ngồi thiền là như “con mèo rình con chuột”. Niệm là con chuột, mình là con mèo.
Tâm Thuần Nhất là Tâm thư giãn nên tiết ra chất Acetylcholine giúp thân tâm hài hoà, còn Nhất Tâm tiết ra Norepinephrine và Epinephrine khiến thân tâm mệt mỏi.
- Thứ hai không tưởng tưởng: Tưởng tượng là chức năng của Trí năng. Thí dụ thấy trái cam chưa ăn đã đoán ngọt hay chua. Tưởng tượng kích thích Giao cảm thần kinh tiết là Norepinephrine và Epinephrine.
- Thứ ba không cố gắng, cứ tu tà tà và đều đặn. Vì cố gắng là chức năng của ý thức.
- Thứ tư không tự kỷ ám thị: mệt nói mệt, khoẻ nói khoẻ. Phải biết rõ chứ không nói ngày là đêm, đêm là ngày để đè nén sự sợ sệt.
Tóm lại Thiền ở đây là tu tập từ dễ tới khó.
******
Sau khi giải lao 10 phút, thầy Không Chiếu tranh thủ thời giờ giảng cho học viên bài Thiền Chỉ và Thiền Định, hướng dẫn một vài chiêu thức thực hành và biểu diễn cách ngồi thiền: xếp bằng, bán già, kiết già.
Giảng về thiền Chỉ (Samatha), thầy Không Chiếu đưa ra những thí dụ, so sánh hợp lý giúp cho học viên hiểu bài nhanh chóng.
- Chỉ giống như Stop, giống như tâm đang lăng xăng mình dừng lại. Như lái xe thấy đèn đỏ ngừng lại.
- Chỉ trong tiếng Việt là sự yên lặng, sự thanh thản của thân của tâm hay trạng thái Tâm dừng lại (nhưng tánh giác chưa hiển lộ).
- Nghĩa tiếng Hán, Chỉ: là đình chỉ, cấm chỉ.
- Nghĩa Nôm, Chỉ: là một thôi!
- Tu Chỉ là phương pháp áp dụng nguyên tắc Chỉ Biết thông qua các giác quan để làm cho Tâm dừng lại hay yên lặng, lắng đọng, thanh thản.
- Làm việc gì chỉ 1 việc đó thôi! Uống chỉ biết uống không nghĩ chuyện gì khác!
Trong kinh có câu: Khi vị ấy đi, vị ấy tỉnh thức đi- vị ấy đứng, vị ấy tỉnh thức đứng. Vị ấy mặc áo, vị ấy tỉnh thức mặc áo. Chúng ta có thể hiểu như thế này: Vị ấy đi, vị ấy chỉ biết đi. Vị ấy đứng, vị ấy chỉ biết đứng... tâm không phóng đi lo chuyện khác.
Tác dụng phương pháp tu Chỉ giúp thay đổi quán tính ý căn, ý thức, trí năng. Cơ chế tánh giác bắt đầu hiện diện. Đối giao cảm tiết ra Acetycholine cân bằng Norepinephrine và Epinephrine điều chỉnh bệnh tâm thể cơ bản hạ huyết áp, hạ đường trong máu ...
Sau khi giảng và định nghĩa về Thiền Chỉ, thầy Không Chiếu đánh chuông cho học viên thực tập tánh nghe, rồi hướng dẫn cho học viên thực tập Thư Giãn Lưỡi (thuộc về thiền Chỉ) thầy Không Chiếu giảng sơ về cơ chế Lưỡi là cơ chế phát ngôn gồm: Môi, Lưỡi, răng liên hệ vùng nói thầm ở Thuỳ Đỉnh. Lưỡi là công cụ của phát ngôn, vọng tâm, vọng tưởng. Thư guãn lưỡi tác động thần kinh: Thiệt hầu và thần kinh Phế vị liên hệ tim, phổi, bao tử.
Sau chiêu thức Thư Giãn Lưỡi thầy dạy cách Nhìn ánh sáng nắng và bóng đen. Nhìn ánh sáng nắng thì trong não tiết ra chất Serotomin chất này có khả năng điều chỉnh ngủ thức, trị nhức đầu một bên, trị trầm cảm, uể oải, mệt mỏi, hạ huyết áp, chữa bệnh mất ký ức, tăng khả năng làm việc, đặc biệt chữa bệnh liệt rung. Nhìn bóng đen cơ thể tiết ra chất Melatonin. Chất này chữa bệnh mất ngủ, ngừa ung thư, bướu cổ, kích thích hệ thống miễn nhiễm, tiết ra chất Acetylcholine hạ huyết áp, ngừa tai biến mạch máu não, trị bệnh mất ký ức... Rất tiếc hôm nay ngoài trời không có nắng nên phần thực tập này được thông qua.
- Nhìn thiền thì có nhìn xa (nhìn chỉ nhìn không chủ ý tìm kiếm một cái gì). Nhãn trường rộng lớn bao nhiêu ánh sáng dồn vào mắt tác động vào tánh thấy tiết ra Acetylcholine, Serotonin.
- Nhìn gần: Mở mắt thấy đối tượng mà không nghĩ gì cả.
- Nhìn lướt qua lại: Thấy mà trong đầu không nói chứ không phải tìm cái gì muốn thấy.
- Nhìn khoảng không gian trống không, giữa mắt và đối tượng là nhìn trống không.
Đến 12 giờ trưa Thầy cho mọi người thiền hành trong vô ngôn rồi tan hàng nghỉ trưa. Tất cả mọi người sẽ trở lại học lớp chiều vào lúc 2 giờ.
Sau 2 tiếng đồng hồ nghĩ trưa, các học viên trở lại lớp. Thầy Không Chiếu giảng qua đề tài thiền Định hay tu Định. Định là trạng thái tâm dừng niệm vững chắc, vui buồn sướng khổ không làm tâm giao động.
Phật nói định là tâm thuần nhất (tâm không chứa cái gì). Lục Tổ Huệ Năng nói định là tâm không vọng tưởng. Các vị Tổ khác nói định có nghĩa là tám gió thổi không động. Thầy Thiền chủ Thích Thông Triệt bảo “ biết không lời đó là định.”
Muốn tâm dừng lại vững chắc chúng ta theo chân của đức Phật là tu theo 4 tầng thiền: Sơ thiền, nhị thiền, tam thiền và tứ thiền.
- Sơ thiền: tức tầng thiền thứ nhất dùng Tầm tắt tứ. Tầm nghĩa là tự mình nói ra, tứ là từ ký ức gợi lên không phải do mình nói. Tóm lại tầm là nói, tứ là sự lầm bầm trong não.
Ở bậc sơ thiền mình nói ra lời hay nói thầm để cắt những ý nghĩ lăng xăng không gợi lên vào trong não.
Thí dụ: Chúng ta xử dụng kỹ thuật “Định niệm hít thở”. Khi hít vào thì nói ra lời: “Tôi biết tôi hít vào”. Khi thở ra thì nói: “Tôi biết tôi thở ra.”
Thực hành nhiều lần như vậy rồi không nói ra lời mà chỉ nói thầm trong não: “Tôi biết tôi hít vào, tôi biết tôi thở ra.” Cho tới khi nào không cần phải nói mà tâm yên lặng thì đạt được kinh nghiệm định không tầm không tứ. Được hỉ lạc. Lên một bậc nữa gọi là Nhị thiền.
- Nhị thiền là “thầm nhận biết hít vào thở ra mà tâm không nói năng gì cả” tâm yên lặng đạt kinh nghiệm định không tầm không tứ. Được hỉ lạc nhiều hơn. Thực hành một thời gian sẽ vào được tam thiền.
- Tam thiền: Tâm hoàn toàn yên lặng chỉ còn một niệm biết rõ ràng đầy đủ, gọi là chánh niệm tỉnh giác.
Thầy Không Chiếu nói ở lớp học 2 ngày thầy chưa vội nhắc đến tứ thiền là ba hành không động. Nói nhiều quá quý vị lùng bùng lỗ tai lắm.
Thiền Định có 2 kỹ thuật: Định niệm hít vào thở ra, thở 2 thì và kỹ thuật Không Nói.
Kỹ thuật “Không Nói” cũng giống như kỹ thuật hít vào thở ra nhưng đi xa hơn. Vì khi quý vị thực tập định niệm thở... giúp tâm yên lặng với niệm biết, tín hiệu biết không lời này tác động vào Đối giao cảm thần kinh tiết ra những chất hormones trị được các căn bệnh về tim mạch, áp huyết, hở van tim v.v... Còn kỹ thuật “Không Nói” từ thấp đến cao... hành giả sẽ đạt được Chân Như Định đạt được giác ngộ giải thoát.
Trở về đề tài căn bản “mì ăn liền” 2 ngày, thầy Không Chiếu nói rằng:
- Bây giờ không nói đến vấn đề cao siêu mà chỉ làm sao hướng dẫn quý vị thực hành để tâm của quý vị dừng được niệm hầu kích thích vào đối giao cảm thần kinh tiết ra chất Acetylcholine và Dopamine cho thân quý vị khoẻ và tâm quý vị an là mục tiêu của lớp “thiền đi vào đời sống” 2 ngày này!
Quý vị nên nhớ học thiền Định chúng ta cần 3 điều, đó là: Điều tâm, Điều tức (hơi thở) và Điều thân.
Muốn Điều Tâm trước hết phải phân biệt được “Ba sắc thái Biết” của tâm. Để học viên hiểu rõ hơn, thầy Không Chiếu giảng bài Ba Sắc Thái Biết như sau:
1- Cái biết của ý thức: Là cái biết phân biệt, điều tra, nghiên cứu, tổng hợp để đi đến quyết định công bố, nó là cái biết của hiện tại, trong đạo Phật ý thức được xem là có công hạng nhất những cũng có tội nói hoài.
2- Cái biết của ý căn: Là cái biết của suy nghĩ về quá khứ vì nó bươi móc lại chuyện cũ nằm trong ký ức ra mà suy tư, tính toán.
- Bên trong ý căn có cái biết của trí năng, trí năng là công cụ của ý căn và ý thức. Nó có tài suy luận. Đức Phật so sánh trí năng như người thợ vẽ tài ba. Từ ý căn, ý thức nó vẽ vời lắm chuyện sẽ... thực hiện sau này nên được xếp vào cái biết hay cái tâm tương lai.
Hai cái biết này là những cái biết chủ quan, có lời, có đối tượng, nó thuộc về Tâm ba thời hay tâm phàm phu, đức Phật ví nó như hồ nước đục.
Tuy vậy, cái biết của Tâm ba thời cũng có ích lợi là giúp con người từ lúc mới sanh ra cho tới khi lớn khôn. Nhưng cái biết của nó là cái biết qua học hỏi từ người khác nên nó hữu hạn, (có khi hôm nay đúng mà một năm sau thì sai). Nhờ nó mà cuộc sống của tấm thân được đầy đủ tuy nhiên cũng chính nó gây ra lắm phiền não lo âu... từ đó con người sinh ra bệnh hoạn.
3- Cái biết khác là cái biết không lời do tu tập mà phát huy trí tuệ gọi là tánh biết hay tánh giác. Tánh biết gồm 4 tánh đó là: tánh thấy, tánh nghe, tánh xúc chạm và tánh nhận thức. Nó thuộc về Tâm bậc thánh, đức Phật ví là hồ nước trong.
Sau khi trình bày phần lý thuyết, hỏi xem học viên có hiểu hay không rồi thầy mới cho mọi người thực tập thiền Định với kỹ thuật “Định niệm hít vào thở ra” lúc đầu 5 phút sau tăng dần lên tới 15 phút.
Lớp học chấm dứt vào lúc 5 giờ chiều. Sau đó là lớp tập khí công do các thiền sinh Tâm Như, Diệu Hoàng và Tuệ Giác hướng dẫn.
*****
Ngày Chủ Nhật 27-2-2011 buổi sáng thầy Không Chiếu hướng dẫn kỹ thuật “Không Nói” , tiếp tục giảng bài thiền Huệ. Buổi chiều sau giờ nghỉ trưa thầy giảng bài thiền Quán đồng thời hướng dẫn học viên thực tập. Sau đó các thiền sinh cũ và mới được mời lên chia sẻ kinh nghiệm, thầy đúc kết 2 ngày học và tuyên bố bế giảng. Đặc biệt các thiền sinh đã tạo sự ngạc nhiên cho thầy là lớp thiền 2 ngày tổ chức tiệc sinh nhật đơn giản với chiếc bánh lớn chúc mừng thầy 84 tuổi (27-2-2011). Hôm nay số học viên gia tăng và có thêm các thiền sinh cũ tới dự thính nên số người tham dự lên tới 79 vị.
Tường thuật lại buổi học ngày hôm nay, sau khi thầy và cả lớp đồng chắp tay chào Phật, lớp học bắt đầu với bài thiền Huệ (Vipassana= Tuệ trí). Định nghĩa Thiền Huệ, thầy Không Chiếu nhấn mạnh:
- Thiền Huệ đặt trên vấn đề không tưởng tượng. Huệ ở đây không phải thật sự là Huệ mà nó là Tuệ trí.
Tuệ trí (Insight) cao hơn trí (knowledge).
Thiền Huệ là thực hành, huấn luyện tế bào não làm sao để có Tuệ trí. Có ba pháp tu thiền Huệ đó là: pháp Không Dán Nhãn, pháp Chú Ý Trống Rỗng, pháp Như Thật. Tôi xin đúc kết bài giảng của thầy Không Chiếu như sau:
1. Pháp Như Thật nghĩa là khi giác quan tiếp xúc với đối tượng, biết rõ ràng đối tượng mà không dính mắc đối tượng. Bằng pháp Như Thật dẹp được bệnh Chủ quan, thành kiến, thiên kiến, định kiến, cô lập 4 nhóm: Tập Khí/Lậu Hoặc, Kiết sử, Tuỳ Miên và cả nghiệp thiện nghiệp ác, đưa tâm trở về bản thể thanh tịnh trong sáng của chính nó.
Tóm lại nhìn rõ hiện tượng thế gian mà không dính mắc là pháp “Như Thật”, là tình trạng vật như thế nào thấy như thế đó tức là sự vật ở trạng thái đang là... Đang là có nghĩa bây giờ và ở đây chứ không phải hiện tại vì hiện tại có thể kéo dài một lát nữa, mà một lát nữa thì không phải đang là.
Sự thật có tên trong Phật giáo là Như thật. Thấy như thật, nghe như thật, xúc chạm như thật. Dụng công pháp Như thật để có sự yên lặng và trí tuệ.
2. Thiền Huệ còn có một kỹ thuật khác nữa là “Không dán nhãn” đối tượng. Thế nào là không dán nhãn đối tượng? Đó là khi giác quan tiếp xúc với đối tượng, người tập không dán nhãn hiệu “tốt hay xấu, đúng hay sai, phải hay trái, chánh hay tà, thiện hay ác v.v...” vào đối tượng. Nhờ vậy tâm hành giả không bị thành kiến, định kiến về đối tượng bằng tâm thương, tâm ghét, chụp mũ xấu hay đề cao tốt đều dán nhãn đối tượng.
Tóm lại, “không dán nhãn” đối tượng là cách thực hành để có cái nhìn khách quan về đối tượng.
3. Một kỹ thuật khác để đạt được Tuệ Trí là “Chú Ý Trống Rỗng”. Trống rỗng nghĩa là không chứa điều gì. Chú ý trống rỗng nghiã là chú ý mà không để tâm quan sát hay tìm hiểu nội dung chú ý, nhưng lại biết rõ đối tượng như thế nào.
Có thể nói cách khác chú ý trống rỗng là cách “nhìn thấy vật, biết rõ ràng về vật mà không gọi tên vật, cũng không nói thầm những sắc thái của vật như thế nào trong não” giống như cách “không dán nhãn, không định danh” đối tượng. Nếu nhìn sự vật rồi gọi tên, khởi niệm so sánh đối tượng thì sự “chú ý trống rỗng” trở thành “chú ý có nội dung”.
Cách thực tập: Ngồi hay đứng ở đâu cũng được. Đối tượng có thể là một bình hoa, một tượng Phật, một lùm cây v.v... Sau đó đưa niệm biết ra ngoài thẳng từ nơi ngồi đến đối tượng. Để 2 mắt thư giãn, không thực sự chú ý nhìn (vision) cũng không tập chú đến đối tượng. Lúc bấy giờ chỉ có sự nhìn thấy mà không có người thấy. Trong vòng 5, 10 phút, tâm ở trạng thái trống rỗng. Nếu cảm thấy với kỹ thuật này giúp giảm dần mức độ “nói thầm” thì tiếp tục sẽ đạt được kinh nghiệm định.
Thiền Huệ là một trong 4 chủ đề trong thiền, đó là thiền Chỉ, Định, Huệ và Quán. Sau giờ nghỉ trưa, các học viên được thầy Không Chiếu giới thiệu sơ về thiền Quán (Anupassanà). Thiền Quán là nhìn liên tục đối tượng để nhận ra trạng thái Vô thường tức là sự thay đổi (từng sát na) của đối tượng.
Cái gì bằng vật chất cái đó Vô thường. Cái gì do nhiều điều kiện kết hợp lại cái đó Vô thường. Cái gì là đối tượng của giác quan tiếp xúc thì cái đó Vô thường ngược lại cái gì thuộc phạm vi Tâm linh như Chân Như, Không, cái đó không Vô thường.
Như vậy bằng Quán ta nhận ra Vô thường của thế giới hiện tượng. Tại sao thế giới hiện tượng là Vô thường (thay đổi). Câu trả lời là vì nó không thực chất tính, không tự sinh, nó do nhiều điều kiện hợp lại mà thành. Bên trong mỗi hiện tượng đều có sự xung đột của nó, nó không đứng yên mà phải thay đổi để thành hiện tượng khác. Trẻ sơ sinh khi mới lọt lòng mẹ thì nhỏ xíu nhưng rồi nó lớn lên thành trẻ con rồi thành thanh niên, người lớn, trung niên rồi già và chết. Nên con người là Vô Ngã. Vạn vật cũng vậy. Nhờ Quán mà ta nhận ra quy luật Vô Thường – Xung đột (Khổ) – Vô Ngã mà danh từ trong Phật giáo gọi là Tam Pháp Ấn.
Khi tâm người tu chấp nhận sự Vô Thường thì sẽ bớt khổ.
Sau khi các học viên nêu những thắc mắc và được thầy Không Chiếu trả lời thoả đáng thì cũng đã hơn 3 giờ chiều. Thầy tuyên bố nếu không còn ai hỏi nữa thì lớp học hai ngày kể như hoàn mãn.
Thiền sinh đạo tràng trưởng Tâm Như cho biết thủ tục “bế giảng” như sau:
- Trưởng lớp tổng kết hai ngày học.
- Các thiền sinh cũ chia sẻ kinh nghiệm.
- Các học viên mới chia sẻ kinh nghiệm
- Thầy Không Chiếu đúc kết.
- Mừng sinh nhật thầy Không Chiếu 84 tuổi.
- Chụp hình lưu niệm.
- Hoàn mãn.
Sau phần chia sẻ của thiền sinh kỳ cựu ông Minh Châu, Không Nhật là thiền sinh cũ. Các học viên mới đã lần lượt lên cám ơn thầy Không Chiếu và ban tổ chức đã tạo cơ hội cho họ đến học lớp thiền 2 ngày này. Có người cho biết chỉ đến thử thôi và đã “dính” với lớp 2 ngày liền.
Ý kiến chung là thầy Không Chiếu dạy có những thí dụ rất vui, hợp lý, giúp cho học viên dễ nhớ bài.
Phần đúc kết của thầy Không Chiếu được ghi nhận đại ý như sau:
- Muốn thay đổi thói quen không phải dễ. Thiền muốn dễ phải tập thành thói quen mới. Nếu không thì quán tính cũ sẽ chế ngự mình. Nếu không dành được một tiếng đồng hồ mỗi ngày thì cũng dành 5, 10 phút “ở trong thiền” tôi nói là “ở trong thiền chứ không phải tu thiền”. Tu thiền là đi kiếm số nhà. Khi thành thói quen là sống trong nhà, nghĩa là sống thiền. Sống thiền sẽ hưởng được tâm thanh thản. Quý vị nên biết “cuộc đời có hạn mà cái lo thì vô hạn”.
Thiền giúp có nhận thức mới về cuộc đời. Sống an lạc và được hạnh phúc. Những gì tôi hướng dẫn ngày hôm nay sẽ không giúp được gì cho quý vị nếu quý không tự mình thực tập khi về nhà. Hai ngày quá ngắn để nói hết những chủ đề lớn trong thiền. Tôi xin nhắc lại:
- Chỉ: Thấy chỉ biết thấy.
- Định: Tâm yên lặng, không lời, không niệm.
- Huệ: Thấy Như thật, Không dán nhãn, Nhìn trống rỗng sẽ vô Như Thật.
Quán: Nhận ra Vô thường, Khổ, Vô Ngã.
Muốn tâm yên lặng nhớ thực tập chiêu “Không Nói”.
Nếu quý vị về nhà có điều gì còn thắc mắc thì đến nơi này sinh hoạt vào các buổi tối từ 7 đến 9 giờ, ngày thứ Hai, thứ Tư, thứ Sáu và sáng Chủ Nhật từ 9 đến 11 giờ trưa.
Lớp học hai ngày do thầy Không Chiếu hướng dẫn đã mang lợi lạc cho nhiều người. Tôi có mấy người bạn quen lâu năm, nghe nói tu Thiền thì có 3 cái sợ. Sợ thứ nhất là không thể ngồi yên. Sợ thứ hai là cái đầu không thể dừng suy nghĩ. Sợ thứ ba là “tẩu hoả nhập ma”. Nhưng chỉ qua một ngày học và thực tập, những vị này đã thực hành được. Dù các vị ấy chỉ giữ tâm mình yên lặng được đôi phút nhưng cũng cảm thấy thanh thản dễ chịu rồi, lại tập thêm khí công có kết quả. Một vị đến từ Dallas cho biết ngày đầu đi bộ lên cầu thang không muốn nổi, vậy mà sau khi tập khí công ngày hôm sau chị đi vững vàng khiến cho ông xã của chị vừa ngạc nhiên vừa mừng. Ngay cả vợ chồng anh Trưởng lớp khi chia sẻ kinh nghiệm cũng cho biết là sau khi tập khí công một thời gian cơn đau nhức của vợ anh hoàn toàn biến mất và anh cũng cảm thấy khoẻ mạnh vui vẻ.
Như vậy quyết định “đưa thiền vào đời sống” của thầy Thiền Chủ đã giúp cho người học phần nào được thân khoẻ tâm an và cuộc sống của họ được vui vẻ hạnh phúc. Mong rằng chương trình này có đủ điều kiện để tiếp tục giúp cho đại chúng ngày một nhiều hơn.
An Như TRẦN KIM VY
|