Content on this page requires a newer version of Adobe Flash Player.

Get Adobe Flash player

 

Cảm Tưởng

Tổng Kết Lớp Học

Sinh Hoạt HT Houston

Thiền Sinh Ôn Bài

Y Học

Tâp San

Kinh Đại Bát Niết Bàn

Kính bạch Thầy,

Hôm nay con xin chép lại phần Đúc Kết về bài học Kinh “Đại Bát Niết Bàn”với những phần chính sau đây:

Trong phần đầu, nhân dịp vua A Xà Thế cho vị quan cận thần đến tham vấn cùng Đức Phật về ý định muốn xâm chiếm nước Bạc Kỳ, Đức Phật đã thuyết giảng cho vị quan đó về 7 điều Hổ Tương Lợi Ích, tương quan nhân quả, nên hay không nên đem quân đi đánh xứ đó.

Có 7 pháp bất thối mà người dân Bạc Kỳ đã được học tập và thực hành, cho nên họ có đầy đủ ưu điểm trong cách sống, đó là tinh thần Đoàn Kết, vững mạnh xây dựng trên Trật Tự và Đạo Đức như sau:

- Thường tụ tập đông đảo trong niệm Đoàn Kết,

- Thường tụ tập làm việc, giải tán trong niệm Đoàn kết,

- Gìn giữ những luật lệ đã ban hành, sống đúng với truyền thống xưa tốt đẹp,

- Tôn kính, đảnh lễ, cúng dường, lắng nghe các bậc trưởng lão, gìn giữ Đạo Đức

- Không làm những điều xấu ác, không bắt cóc, hãm hiếp phụ nữ

- Cung kính, đảnh lễ, cúng dường các Tu viện, gìn giữ nghi lễ, tôn trọng quy Pháp,

- Tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các A La Hán, những bậc tu hành chơn chánh.

Ngài dạy rằng: “Qua 7 pháp bất thối nêu trên, do vì người dân Bạc Kỳđã duy trì thực hành mà đời sống họ cường thịnh và không bị suy giảm. Và như thế, quan đại thần tâu lại vua A Xà Thế, Ngài không còn muốn đi đánh nữa. Đó là một bài học đầy lợi ích cho nhân gian.

Nhân cơ hội trả lời cho vua A Xà Thế, Đức Phật cũng đã họp các vị tu sĩ đang sống gần thành Vương Xá để giảng một bài Pháp tương trợ như vậy. Đó là 7 Pháp bất thối cho tăng đoàn:

  1. Khi chúng Tỳ Kheo thường hay tụ họp, tụ họp đông đảo bên nhau
  2. Khi chúng Tỳ Kheo làm việc, giải tán, tụ họp trong niệm Đòan Kết,
  3. Khi chúng Tỳ Kheo gìn giữ giới luật đã ban hành, không hủy bỏ và sống đúng với giới luật,
  4. Khi chúng Tỳ Kheo kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường các bậc Thượng tọa, những vị giàu kinh nghiệm, niên cao lập trường, là Thầy, cha của chúng tăng,
  5. Khi chúng Tỳ Kheo không bị chi phối bởi Tham Ái, vì Tham Ái lôi cuốn vào 1 đời sống khác bất thiện nghiệp,
  6. Khi chúng Tỳ Kheo thích sống chỗ nhàn tịnh,
  7. Khi chúng Tỳ Kheo tự thân muốn an trú Chánh Niệm, giúp các bạn đồng tu thiện chí muốn đến, ở và được sống an lạc bên nhau.

Thời, với 7 pháp bất thối nầy, chúng Tỳ Kheo trong tăng đoàn sẽ mãi cường thịnh, không suy giảm.

Hai thời Pháp trên là sự giáo hóa của Đức Phật, đi vào nền Tâm lý, sinh lý thực nghiệm và tâm lý xã hội thực nghiệm. Ví như muốn xây một ngôi nhà, phải xây từ nền móng, cột kèo, tường vách, mái, cửa lớn cửa nhỏ, đúng chính xác, bền vững, kiên cố, từ cái nầy liên hệ tới cái kia, không kẽ hở, thì ngôi nhà đó sẽ vững bền không dễ ngã đổ.

Do đó, một quốc gia, một xã hội , một tập thể, một gia đình nào, bất luận ở thời đại nào, được thực hành 7 điều nói trên thì kết quả đúng với định luật tương quan nhân quả, cái nầy có cái kia có, cái nầy không cái kia không , tất nhiên sự hỗ tương lợi ích tốt đẹp sẽ đến với tập thể đó.

Tiếp theo bài kinh trên Ngài dạy các vị tu hành con đường dụng công tu tập:

  1. Không dừng sự tu tập nửa chừng mà phải đi đến chỗ rốt ráo, cho dù đạt được quả vị thấp kém hay quả vị thù thắng,
  2. Luôn gìn giữ sự tinh tấn, có tàm có quý, có chánh niệm và tuệ trí,
  3. Dụng công tu tập thất giác chi,
  4. Tu tập Quán Vô thường tưởng, Vô Ngã tưởng, Nguy hiểm tưởng, Xả Ly tưởng, Vô Tham tưởng, thường an trú trong Chánh Niệm Tỉnh Giác,
  5. Giữ lục hòa, thân khẩu ý, bình đẳng ý, nghiệp từ hòa, không phân phối thiên vị mọi lợi dưỡng chơn chánh , hợp pháp,
  6. Thọ trì những tri kiến đúng với Sa Môn hạnh, những thánh tri kiến đưa đến giải thoát, hướng đến tận diệt khổ đau,
  7. Pháp tu để đi đến chỗ rốt ráo giải thoát:
  • Định cùng tu với Giới = lợi ích lớn
  • Tuệ cùng tu với Định = quả vị lớn
  • Tâm cùng tu với Tuệ = giải thoát hoàn toàn các món Lậu hoặc,

Đây là Pháp quan trọng, mà nhờ Thầy hướng dẫn chúng con rõ nghĩa hơn:

1. Định cùng tu với Giới; Lợi ích lớn nhưng chưa đạt được quả rốt ráo, quả vị đây là Tâm Tathà.

Tiến trình dụng công tu, người trì Giới nghiêm minh thì có Định. Khi có Định thì có năng lượng, đôi khi có thần lực hay thần thông, dễ thu hút người khác. Tuy nhiên bề đáy vẫn còn tập khí vì chưa thành tựu đạo vị rốt ráo, gặp cơ hội nó trào lên, cho nên người tu Định phải luôn luôn giữ giới.

Một thí dụ cụ thể như ngài Bồ Đề Đạt Đa, đã có Định, nhưng không giữ giới, bị lậu hoặc sâu dày thúc đẩy, còn khát ái và ích kỷ, tạo ra nghiệp bất thiện, hại Phật, ảnh hưởng xấu đến tăng đoàn, sau đó phải trả nghiệp báo.

2. Tuệ cùng tu với Định, được quả vị lớn hơn, nhưng vẫn chưa đạt được quả vị rốt ráo. Tâm đã hoàn toàn yên lặng. Đã có Như Thật Trí, có Định sâu. Tuệ đây là Tuệ Trí, cùng tu với Định, pháp dụng công “Không –Chân Như” hay 3 cửa giải thoát “Không Định-Vô Tưóng Định-Vô Nguyện Định” để bật ra Tâm Tathà.

3. Tâm cùng tu với Tuệ, đưa đến giải thoát tối hậu.

Tâm đây là Tâm Tathà, Tâm Như, cùng tu với Tuệ, Tuệ đây cao hơn Tuệ Trí, nó đã là Huệ Lực, để thể nhập TathaTà, thể nhập chân tánh tuyệt đối của hiện tượng thế gian, để đi đến quả vị rốt ráo mà bậc Chánh Đẳng giảng.

Đức Phật dạy thời Pháp nầy, giáo hóa nhắc nhở, sách tấn chi tiết từng phần để đường tu đạt được kết quả viên mãn giải thoát. Ngài đã đặt nền Tâm Lý Giải Thoát ngay từ thời bấy giờ.

Ngoài ra Đức Phật dạy cho cư sĩ giữ 5 giới:

Nhờ giữ 5 giới tốt đẹp được quả báo phong phú dư giả, được danh tiếng quý trọng, được Định vững chắc, chết trong tâm an tịnh không rối loạn. Mạng chung sẽ tái sanh vào những cảnh giới thuận thú thích hợp với căn cơ và công đức của chính mình..

Bài Pháp nầy Ngài dạy cho người thế tục còn đeo mang tình cảm, trách nhiệm, buộc ràng bởi giây trói buộc, cũng có thể hướng tâm về Đạo Đức, giới luật của 1 con người, biết được định luật nhân quả, để có hướng đi tốt đẹp cho vòng luân hồi tái sinh.

Với tâm từ bi vô hạn, tuy chỉ còn 3 tháng Ngài duy trì mạng sống, Ngài vẫn đi hoằng Pháp lợi sanh bằng đôi chân đất tiếp tục giáo hóa đến hơi thở cuối cùng. Ngài chỉ bày và độ cho những ai có mắt để thấy, có tai để nghe, có duyên để gặp, có tín tâm từ bỏ tà kiến đang đeo đuổi, thì Ngài từ bi giáo hóa không phân biệt nam nữ, già trẻ, tôn giáo đều được tiếp thu chân pháp Ngài giảng.

Qua sự kiện Đức Phật tự mình chứng ngộ, tự mình thiết lập giáo pháp, tự thực nghiệm để đi đến giác ngộ giải thoát. Ngài hướng dẫn mở đầu cho chúng sanh có nhận thức mới, về tiến trình tâm linh qua 3 nền tảng trong Phật Giáo : tâm lý sinh lý thực nghiệm, tâm lý xã hội thực nghiệm, và tâm lý thực nghiệm giải thoát.

Tiến trình thành đạo của Đức Phật Thích Ca dựa trên sự chứng ngộ 3 minh Ngài chứng Tứ Đế và Lý Duyên Khởi, thành tựu qua bản thân Ngài, giải đáp bài toán nghi vấn tối hậu. Ngài đã giảng lại bài Tứ Đế quan trọng được thành lập trên 4 đế:

Khổ Đế, Tập Đế, Diệt Đế và Đạo đế với lời Di Giáo xác định :

-“Này các tỳ kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Bốn Thánh Đế mà chúng ta phải chịu luân chuyển luân hồi lâu năm”.

Nhờ Thầy hướng dẫn chúng con thấm thía bài Pháp Tứ Đế với 3 chuyển và 12 hành tướng mà Thầy đã dạy qua dạy lại nhiều lần. Nguyên nhân Khổ Đế tác động và Tác Dụng sự vận hànhTập Đế và Diệt đế và cuối cùng thành quả của pháp Tứ Đế là con đường Bát Chánh Đạo, đưa đến tận diệt khổ đau.

Ngài dạy rằng:

“Khi những sự thật nầy được nhận thức, nguyên nhân của một đời sống khác được diệt, khổ căn được diệt trừ, sẽ không còn đời sống khác nữa.” Và Ngài cũng nói rằng:

“Chánh Pháp ta giảng không phân biệt trong ngoài, không nắm giữ bất cứ gì sót lại.”

Ngài cũng không kêu gọi chúng đệ tử thờ cúng Ngài mà nghĩ rằng Ngài là vị cầm đầu Tỳ Kheo. Đây là một tư tưởng nói lên “Vô Ngã”

Mặc dầu Ngài chứng được Pháp Giới Tánh và Pháp Tánh của thế giới Vũ trụ quan và Nhân sinh quan, gồm vô vi Pháp: Như Tánh và Bình đẳng Tánh và Hữu vi Pháp gồm Y Duyên Tánh và Biến Dịch Tánh, Ngài vẫn chọn sự ra đi chấm dứt dòng sinh mệnh hữu vi tướng để nói lên tất cả hiện tượng thế gian đều vô thường, có sinh ắt có diệt, Như Lai không trụ thế mãi vì không muốn đi ngược với nguyên tắc khách quan tính, biến dịch của thế giới hiện tượng.

Nhưng Chánh Pháp Ngài thành tựu qua thực chứng là ngọn đuốc soi đường mãi mãi cho những ai biết tìm đến để học hỏi và tu tập, là chơn lý với mọi thời gian và không gian.

Trong Kinh Đại Bát Niết Bàn , Ngài dạy rằng:

“Nầy Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa gì khác. Này Ananda, Pháp và Luật mà ta đã giảng dạy và trình bày, sau khi ta diệt độ, chánh pháp và luật ấy là Đạo sư của các người”, nói lên tinh thần tự lực,tự giác, giác tha.

 Thế rồi một ngày tại đền thờ Capula, Thế Tôn đã từ Chánh Niệm Tỉnh Giác, bỏ Thọ hành không duy trì mạng sống. Ngài Ananda, thị gỉa thân cận bên Ngài đã đau khổ than khóc. Ngài đã giảng tiếp một bài pháp về sự vô thường:

“Nầy Ananda, chớ có buồn rầu, chớ có khóc than, ta đã từng tuyên bố với ngươi rằng mọi vật ưu ái có tướng đều bị thay đổi, trở về hư không. Những gì sanh khởi, tồn tại, hữu vi đều chịu sự biến dịch và biến hoại” Do đó Ngài dạy các Tỳ kheo:

“Những Pháp do ta chứng ngộ và giảng dạy các Người, hãy khéo học hỏi, thực chứng và tu tập, truyền rộng để phạm hạnh được trường tồn. Đó chính là “vì hạnh phúc, vì sự lợi lạc,vì lòng thương tưởng cho đời, vì an lạc cho loài Trời và loài Người. Hãy tinh tấn để tự giải thoát.”

Những thời Pháp vi diệu của Bậc Giác Ngộ giáo hóa trong suốt 49 năm với Tứ Vô Lượng Tâm “vị Nhân sinh”, pháp luôn đặt trên nền tảng Trí Huệ. Do đó chúng ta học Phật pháp phải tìm về nguồn gốc nguyên thủy làm nền, để như lời Ngài dạy trong kinh, cần có 4 điều tham chiếu gọi là:

“Bốn Đại Giáo Pháp”. Đây là đề tài quan trọng cho hậu thế soi học từ lời dạy của
Đức Bổn Sư. Có bốn Đại Giáo Pháp hãy nghe và suy nghiệm”

  1. Dù là một vị nói rằng tôi tự thân nghe từ miệng Thế Tôn, tự thân lãnh thọ như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời vị Đạo Sư…
  2. Tại trú xứ kia, có tăng chúng ở với các vị Thượng tọa, với các thủ chúng, tôi tự thân nghe từ miệng tăng chúng, tự thân lãnh thọ, như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của vị Đạo Sư…
  3. Tại trú xứ kia, có nhiều vị Tỳ Kheo và Thượng Tọa ở. Những vị nầy là bậc đa văn, gìn giữ truyền thống, trì Pháp, trì Luật, trì Pháp yếu. Tôi tự thân nghe từ miệng những vị Thượng tọa ấy, tự thân lãnh thọ, như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của Đạo Sư…
  4. Tại trú xứ kia, có một vị Thượng Tọa, vị nầy là bậc đa văn, gìn giữ truyền thống, trì pháp, trì luật, trì pháp yếu Tôi tự thân nghe từ Thượng Tọa, tự thân lãnh thọ, như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của vị Đạo Sư…

Qua 4 điều nói trên Ngài dạy cần tham chiếu, học hỏi cẩn thận như sau:

Này các Tỳ kheo, ngươi không nên tán thán, không nên hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu,  cần phải được học hỏi kỹ lưỡng, và đem so sánh với Kinh, đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với Kinh, đối chiếu với Luật, nếu không phù hợp với Kinh và không tương ưng với Luật, thì các ngươi có thể kết luận: chắc chắn những lời nầy không phải của Thế Tôn và Tỳ kheo ấy đã thọ giới sai lầm. Và này các Tỳ kheo, các ngươi hãy từ bỏ chúng.

Khi đem so sánh với Kinh đối chiếu với Luật, phù hợp và tương ưng thì đây chính là lời dạy của Thế Tôn, và có thể kết luận vị Tỳ kheo ấy đã thọ giáo chân chánh. Như vậy là 4 Đại Giáo Pháp các ngươi hãy thọ trì”

Qua bài kinh giảng dạy nầy, Đức Phật dạy các đệ tử và Phật Tử tìm đến Pháp, học hỏi Pháp, thực hành Pháp trên trí tuệ soi chiếu bằng cách luôn đối chiếu với Kinh, Luật, từng phần học hỏi, nếu thực hành qua một thời gian không tiến bộ, không chuyển đổi nhận thức, không được Thân khỏe mạnh, Tâm không an lạc hài hòa, trí tuệ không sáng suốt thù thắng, thì cần xét lại chính mình, Pháp, vị Thầy hướng dẫn. Đây là tinh thần học hỏi tham chiếu đầy khách quan, hướng về chánh trí, tâm linh, không lệ thuộc dính mắc vào mê tín, tín ngưỡng hay cảm tính. Ngài dạy đó chính là nguồn của chánh trí, để đi đến trí huệ Bát Nhã.  

Sau cùng sự ra đi và cái chết của vị Đạo Sư là bài học quý báu nói lên lòng từ bi, trí huệ của bậc Giác Ngộ đối với ông Cunda, người thợ sắt, người cúng dường bữa cơm biết rõ rằng có nấm độc. Ngài vẫn bình thản và không từ chối và dành riêng cho mỗi Ngài ăn mà thôi.

Ngài đã nói với ngài Ananda:

“ Này Ananda, cần phải làm tiêu tan hối hận của người thợ sắt Cunda: “Nầy Hiền giả thật là công đức cho bạn, vì được Như lai dùng bữa cơm cuối cùng từ bạn cúng dường và nhập diệt. Này hiền giả, tôi tự thân nghe, tự thân lãnh thọ lời nói nầy của Thế Tôn: Có 2 sự cúng dường ăn uống đồng một quả báo, đồng một dị thục quả, lợi ích hơn sự cúng dường nào khác. Một là bữa ăn trước khi Như Lai chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Giác, (chiếc bánh sữa do cô Sujàtà dâng). Hai là bữa ăn trước khi Như Lai diệt độ Niết Bàn. Hai bữa ăn nầy đồng một quả báo.

Nhờđó đại đức Cunda sẽ được tuổi thọ, phước báu, an lạc, danh tiếng, uy quyền, và được hưởng cõi Trời.”

Sự kiện trên cho chúng ta bài học Tâm Từ của bậc Giác Ngộ. Hai bữa ăn tuy có khác nhau nhưng Tâm Ngài là Tâm Như, thuần tịnh, nên 2 bữa ăn vị hoàn toàn thanh tịnh của Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.

May mắn cho chúng con, cho những ai được nghe những lời dạy của Bậc Giác Ngộ. Những ai may mắn được chiêm ngưỡng và tôn kính, lễ bái thăm viếng 4 Thánh Tích của Ngài tại Ấn Độ:

  1. Đây là chỗ Như Lai đản sanh,
  2. Đây là chỗ Như Lai chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Giác,
  3. Đây là chỗ Như Lai chuyển Pháp Luân,
  4. Đây là chỗ Như Lai nhập Niết Bàn.

Theo lời dạy trong Kinh Đại Bát Niết Bàn đều được thù thắng, tâm hoan hỷ, đưa đến cảnh thiện thú, cảnh giới chư thiên khi mạng chung. Tóm kết, những phần quan trọng trong kinh Đại Bát Niết Bàn cho chúng con sự học tập suy nghiệm về vị Phật giác ngộ mà chúng sanh hằng tôn kính. Chúng con tri ân đảnh lễ những bài Pháp Đức Như Lai giảng dạy cho chúng sanh tu tập. Chúng con tri ân đảnh lễ vị Thầy tận tụy giảng dạy lại những bài Pháp cốt lõi, tinh ba, khai tâm cho chúng con trên đường tâm linh trí tuệ. Chúng con nguyện đi theo ánh đuốc mà Đức Bổn Sư đã thấp sáng qua sự tu chứng thành đạo của Ngài. Chúng con thật cảm kích khi học tập bài Kinh nầy, nói lên tinh hoa Phật Giáo qua 49 năm giáo hóa. Sự thanh tịnh, trí tuệ, hướng đi tâm linh của những vị xuất gia do nhờ Đức Phật tiên phong, cách mạng, mở ra một Đạo lộ tâm linh cho loài người . Nếu không có Thầy hướng dẫn, gia tài quý báu của Đức Phật để lại, làm sao chúng con được hiểu được biết, được thực hành? Trường kỳ học tập bên Thầy, chỉ mới có 5 năm mà chúng con nhận và lãnh hội biết bao bài Pháp quan trọng, yếu chỉ trong Phật Pháp. Trong kỳ tùng hạ nầy, một niềm vui hạnh phúc khi thấy có những Thầy Cô nhập hạ đã trên 80, ngoài 70 luôn học tập ghi chép không mệt mỏi chuyên cần tu tập, chuyên cần công phu Thiền định, chuyên cần công quả và trên gương mặt các vị luôn rạng rỡ sự bình an.

Con nhận ra rằng với tuổi đời nầy, thông thường đang lo bệnh, lo chết, lo gia đình con cháu, dù tuổi già không còn làm gì được. Biết rằng sẽ chết, câu hỏi chết thế nào? chết đi về đâu ? Thì nơi đây, dù tuổi già, dù thân có khỏe hay không, tâm các vị vẫn thanh thản và an tịnh, tu tập trí huệ.

Đời xuất gia, thanh thoát và cao quý thay…

Con kính đội ơn THẦY

Con Huệ Tâm